Đôi mắt người Sơn Tây

Filed Under (Music) by B.l.u.e on 09-11-2010

Tagged Under : ,

null

Cuối cùng là chẳng có một đổi thay nào. Sau bốn mươi năm, chúng ta vẫn yêu mến Hoài Bắc Phạm Đình Chương bằng một mến yêu không bao giờ thay đổi.

Đoạn trên là lời tưởng niệm Phạm Đình Chương của nhà văn Mai Thảo. Ngày ấy, nghĩa là sau cái thời điểm mà cuộc hôn nhân giữa Phạm Đình Chương và Khánh Ngọc tan vỡ, ông uống rượu rất nhiều, uống cả ngày, cùng với Mai Thảo. Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ mà tôi yêu mến nhất trong số rất nhiều nhạc sĩ của nền tân nhạc Việt Nam – tuy chỉ dài chưa được 3/4 thế kỉ, nhưng đã sản sinh ra bao nhiêu tài năng, bao nhiêu tuyệt phẩm.

Tôi nghe Phạm Đình Chương khi nào tôi cũng không rõ lắm, nhưng hình như là sau Văn Cao, Phạm Duy và Trịnh Công Sơn một thời gian khá dài. Thật ra, ban đầu là tôi mua cái đĩa Mp3 tổng hợp các bài nhạc tiền chiến (12 ngàn/ đĩa bán đầy ở các cửa hàng băng đĩa lậu). Tôi nghe nhạc hay thích nghe vào những buổi chiều, trong căn phòng kéo kín rèm tối bưng. Và lần đó, Winamp chơi random tới bài “Người đi qua đời tôi” với tiếng hát Thái Thanh. Những giai điệu lúc dồn dập, lúc thê lương hòa cùng tiếng hát liêu trai rất đặc trưng của “Tiếng hát vượt thời gian” Thái Thanh khiến tôi rùng mình ớn lạnh, ngay từ câu đầu tiên: Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu… cho tới câu: Trên lối về nghĩa trang/ Nghe những linh hồn nghe những linh hồn/ Trong mộ phần tối đen…

Kể từ đó, tôi biết tới cái tên Phạm Đình Chương.

Ban đầu, tôi không thích nhạc của ông nhiều lắm, vì đơn giản một điều là nó quá thê lương. Thậm chí, sau này khi đã nghe qua những câu như Đừng bỏ em một mình, đường về nghĩa trang mông mênh (Phạm Duy) hay Bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ, Con dế buồn tự tử giữa đêm sương (Từ Công Phụng), tôi vẫn không cảm giác được cái nỗi tuyệt vọng như thế.

À, đại loại là, tôi ngày đó nghe hầu hết các bài của Phạm Đình Chương, nhưng chỉ là nghe qua cho biết, rất ít khi nghe lại lần thứ hai…

***

Phạm Đình Chương về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác, có thể chia thành hai giai đoạn rõ ràng, được ngăn cách bởi một sự kiện – đau đớn – và – phũ phàng: phát hiện vợ mình ngoại tình.

Chương của thời tâm hồn tươi trẻ, đó là ca sĩ Hoài Bắc, ca sĩ chính của ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng một thời. Cho đến nay, theo ý kiến của tôi, có lẽ chỉ có ban đại hợp xướng Tiếng tơ đồng của ông vua Tango Hoàng Trọng, và sau này, tuy hơi khập khiễng xíu khi so sánh, là ban Phượng Hoàng với các thành viên Elvis Phương – Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang mới đạt đến mức tuyệt vời như thế.

Không hiếm chuyện các nhạc sĩ xuất thân từ ca sĩ, hay có giọng hát hay. Một vài tên tuổi quen thuộc có thể liệt kê ở đây như Phạm Duy, Từ Công Phụng, Tuấn Khanh, Duy Khánh, Lê Uyên Phương, và sau này là Trần Tiến… nhưng trong đó, hiếm ai hát thật sự cuốn hút như Phạm Đình Chương.

Tôi hồi đó nghe kể lại là Hoài Bắc (Chương) sở hữu một giọng hát rất trầm ấm, truyền cảm và cuốn hút. Đặc biệt là ông có tài ngâm thơ. Nói ngoài lề một chút, việc ngâm thơ trong một bài hát, nếu áp dụng đúng lúc, đúng chỗ, thì đem lại hiệu quả tuyệt vời, nhưng nếu thái quá thì ra tác dụng ngược. Có thể nêu ra ở đây vài bài của Hoàng Oanh – ngay cả khi ‘thương hiệu’ riêng của Hoàng Oanh là thế (nhưng không vì vậy mà bài nào cũng hay và hợp), gần đây là Trường Vũ. Anh Trường Vũ này rất khoái ngâm thơ, dù nhiều lúc, nói thật, tôi thấy chán òm, mà chả hiểu sao người ta khen nhiều thế.

Quay lại, Chương sau khi chia tay Khánh Ngọc, là một Phạm Đình Chương của u sầu, của hoài niệm, của tiếc nhớ, của đớn đau. Những điều này có thể dễ dàng nhận ra qua những sáng tác thời điểm sau của ông. Có nghe, có hiểu Chương qua cả hai thời kì ấy, mới thấy thương ông ghê gớm. Phải chăng vì thế, khi ông mất bên hải ngoại, rất nhiều người buồn và thương tiếc…

***

Trong các bài thơ đã học ở chương trình văn học phổ thông, thì chỉ có hai bài để lại cho tôi ấn tượng nhất, đó là Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, và Tây Tiến của Quang Dũng. Đến bây giờ, đôi khi tôi vẫn hay lẩm nhẩm vài câu trong những bài đó. Những câu cứ thế tự nhiên đến trong đầu, thật là lạ kì.

Như đã nói ở trên, tôi đã không nghe Chương từ lâu lắm, bất chợt một chiều nọ – quái, tôi rất hay bị chết đứ đừ bởi các bài nhạc tình cờ đến như thế này – tôi ngồi lái xe và nghe lại “Đôi mắt người Sơn Tây”.

Đôi khi người ta hay đặt câu hỏi: ai là người phổ thơ hay nhất trong nền âm nhạc Việt Nam? Dĩ nhiên, kể ra thì nhiều lắm, Phạm Duy với những bản phổ thơ Minh Đức Hoài Trinh mà tôi rất thích, hay Anh Bằng với số lượng ca khúc phổ thơ đồ sộ; có nhiều người thì gọi Phạm Đình Chương là thiên tài trong lãnh vực đem thơ vào nhạc.

Thật ra, ai cũng có những điểm mạnh của mình. Lấy Phạm Duy làm ví dụ, “Kiếp nào có yêu nhau” và “Đừng bỏ em một mình”, ông đem vào nhạc hay đến mức chính Minh Đức Hoài Trinh cũng phải thừa nhận là chúng thậm chí còn hay hơn cả hai bài thơ gốc. Riêng tôi, tôi đánh giá việc Phạm Đình Chương đem cả hai tuyệt phẩm của Quang Dũng “Đôi bờ” và “Đôi mắt người Sơn Tây”, để hòa vào một bài nhạc bất hủ duy nhất “Đôi mắt người Sơn Tây” cao hơn.

Nghe “Đôi mắt người Sơn Tây” của Chương sau khi đã đọc hai bài thơ nguyên gốc của Quang Dũng, hẳn ai cũng phải ngạc nhiên vì không thể tìm thấy cái ranh giới nào, dù chỉ là rất nhỏ, gọi là có thể ngăn cách cái ý liền mạch của bài hát. Dường như, đó là một bài duy nhất, chứ không phải lấy ý từ hai bài thơ khác biệt. Chỉ nội điểm này thôi cũng đã đủ để người đời ngả mũ kính phục.

“Đôi mắt người Sơn Tây” gần đây được khá nhiều người biết tới, sau khi Đức Tuấn – một giọng ca tiềm năng của nền nhạc Việt đương đại, đưa nó trở lại với khán giả yêu nhạc sau hơn 30 năm đóng mờ cát bụi. Không thể phủ nhận Đức Tuấn xử lí bài hát này rất đạt, đạt từ giọng hát tới phần hòa âm. Tôi đánh giá version này của Đức Tuấn còn hay hơn cả Bích Liên, và ngang ngang bản của Thái Thanh.

***

Cái thú vị của việc nghe lại những bản nhạc xưa, là tình cờ tìm được version nào đó, rất độc, rất lạ, và rất cũ. Như bản “Dạ khúc cho tình nhân” vào năm 1970, chỉ có độc tiếng guitar của Phương, hay bản “Thiên thai” với phần trình diễn của ban đại hợp xướng Tiếng tơ đồng.

Đối với “Đôi mắt người Sơn Tây”, thì đó là hai phiên bản (mà tuy chất lượng thu âm không cao), nhưng theo tôi là ăn đứt version của Đức Tuấn, và cả Thái Thanh.

Bản đầu là giọng hát của chính tác giả, điều đặc biệt là khúc cuối, đích thân Hoài Bắc ngâm bốn câu thơ cuối trong bài Đôi Bờ:

Bao giờ ta gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta?

Đúng là có nghe tiếng hát trầm ấm của Chương hát xong, lại nghe tiếng ngâm thơ hòa hợp về cuối, mới thấy được hết cái đẹp xen lẫn buồn nhẹ nhàng của bài hát.

Bản thứ hai là sự kết hợp giọng ca liêu trai, đầy cao vút của Thái Thanh, chất giọng truyền cảm của Chương, và giọng ngâm thơ của Hồng Vân.

Hồng Vân là một trong những giọng ngâm thơ khá được chú ý trong nền âm nhạc Việt Nam, dù không được như Tô Kiều Ngân, Vân Khanh… nhưng đặc biệt trong bài này, giọng ngâm của cô mang lại nhiều tư vị riêng, nhất là khi nghe hai câu ngâm:

Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

***

Buồn viễn xứ khôn khuây… nghe câu này, tôi nhớ ai? Nhớ quê hương, nhớ kỉ niệm, hay nhớ em…

091110,
B.l.u.e

ba

Filed Under (Another Me) by B.l.u.e on 25-10-2010

Tagged Under :

Người ta có thể chọn mọi thứ, nhưng không thể chọn người sinh ra mình. Đại loại là có ai từng nói với tôi câu này, là mẹ tôi, là bà nội tôi, hay là bác ruột tôi? – trời, kí ức qua lâu lắm rồi, làm sao tôi nhớ được cơ chứ? Tôi chỉ biết họ nói câu này khi tôi bảo rằng tôi hận ba tôi. Những cảm nghĩ, những tình cảm của tôi về ba, nó nhòe nhoẹt lắm, không phải vì do thời gian làm cho nó mờ đi, mà là do có quá nhiều cảm xúc khác nhau, và mỗi thứ đều là những thái cực hoàn toàn tương phản.

Lịch sử dưới góc nhìn của một đất nước chỉ là những biến cố xảy ra, theo cách này hay cách khác, nhưng đối với nhiều người, nó đơn giản để lại những hệ quả cả đời người. Ba tôi hồi trẻ học giỏi, đẹp trai, hát hay và đàn giỏi (tôi thì không được cái nào trong cả bốn cái đó). Ông có lẽ đã được đi du học nếu không xảy ra sự kiện 1975. Và chính cái biến cố ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến ông sau này.

Có hai thứ gắn liền với hình ảnh ba mà tôi nhớ nhất khi nghĩ về tuổi thơ của mình: đó là hình ảnh chai xì dầu bay đánh choảng vào cái tủ sau lưng, chỉ cách đầu tôi vài gang tay, và hình ảnh ngọn đèn thắp thâu đêm khi ba kèm tôi học. Những kí ức yêu, hận cứ đan xen lẫn nhau, đi cùng tôi đến gần hai mươi năm cuộc đời.

Có những lần khi ba uống rượu say, tôi hay ngồi một góc, lặng nhìn khuôn mặt đang rất tức giận, và tự hỏi liệu đó có phải là người đàn ông rất tinh tế, rất nghệ sĩ luôn tươi cười mà mình biết trước đó? Những lúc như vậy, tôi hay nghĩ về quá khứ, khi ông cùng tôi chơi đá banh, những lúc ông học cùng tôi, giải toán cùng tôi, hình ảnh ông ngồi im trên chiếc xích đu cũ kĩ, nhìn ra bãi cỏ xám bạc cả một màu vào những buổi chiều ông chờ tôi tan lớp bồi dưỡng học sinh giỏi ở huyện về, hay hình ảnh ông nhảy xuống ao hì hục tát nước lên dập cho tắt đám cháy mà tôi và thằng Bảo, vì nghịch ngợm chơi trò búng diêm đã xém đốt gần như trụi bãi cỏ của trường. Cũng có lúc, tôi lại nhớ về cái ngày mà ba nói với tôi: ba mẹ bỏ những gì gầy dựng bao năm ở đây, chuyển nhà lên thành phố để con học cho tốt.

Tôi biết ơn ba lắm, ông dạy tôi từ những bài học của cuộc đời ông, những bài học mà một anh chàng vốn thư sinh như ông phải đánh đổi bằng mồ hôi và nước mắt, bằng những ân tình và cả lừa dối của người đời. Nhưng rồi, cũng có lần tôi hận ba ghê gớm, khi ba và mẹ gây sự ầm ĩ cả xóm làng, và sáng hôm sau, tôi đi học, tôi đến trường trong cái nhìn đầy thương cảm của bọn bạn.

Tôi hận ông, đặc biệt khi nhìn thấy những giọt nước mắt của mẹ, của em gái tôi, và đôi khi của tôi – như thể tôi đang từ ở một nơi nào đó xa lắm, một tầng không gian nào đó và đang nhìn xuống cái cảnh tan tành đang diễn ra. Đôi khi tôi thấy quen thuộc đến chai lì với nó, đôi khi tôi thấy đau đớn khôn nguôi.

Những cơn say của ông diễn ra thường xuyên đến mức, nhiều khi ngay sau lúc xưng tội xong, biết rằng mình đã được Chúa tha thứ hết, tôi nghe tiếng còi tàu xe lửa hú vang lên và nghĩ, hay mình đâm đầu vào đó cho xong, vì chắc chắn chết rồi sẽ được lên thiên đàng, sẽ có cuộc sống tốt hơn hiện tại. Nhưng rồi tôi lại nhớ về mẹ tôi, về em gái tôi. Đó cũng là lúc tôi tự bảo mình phải mạnh mẽ hơn.

Năm tôi bắt đầu học cấp ba, cũng là khi tôi bắt đầu phản kháng lại ông. Những lần ầm ĩ trong nhà tôi hay bắt nguồn từ các kịch bản quen thuộc, ba la tôi hay em tôi, mẹ tôi bênh lại, và cuối cùng tôi là người đứng thẳng lên phản kháng. Những lúc như thế, những lúc khi tôi sẫng giọng lên với ông, nhìn vào đôi mắt đỏ hằn vệt máu của ông, tôi nghĩ ông sẽ đánh tôi, nhưng ông chỉ run run và bảo: ngay cả mày giờ cũng như thế, rồi đóng sập cửa phòng lại và ngồi trong đó cả ngày. Những lần đó, tôi hay tự hỏi, ông làm gì trong đó, liệu ông có đang buồn vì tôi như thế?

Tôi khi đó hành xử theo những cơn nóng giận của cảm xúc, của bản thân. Tôi từng lén xé bỏ đơn li hôn của ba mẹ tôi, cũng có lần khuyên mẹ nên nộp đơn ra tòa, vì như thế là giải thoát. Có một lần như thế, khi tôi in cái bảng bán nhà cho mẹ tôi, và tự mình ra dán ngay trước cửa nhà, ba tôi đi đâu về, thấy, ông lẳng lặng xé nó ra, và ngồi ngay cầu thang. Tôi khi đó chả thiết gì nữa rồi, tôi cũng chỉ ngồi lẳng lặng đó xem ông làm gì. Ai ngờ, nơi cái góc cầu thang tối om, ừ, đó vẫn là kí ức hằn sâu trong tôi, tôi thấy ông khóc. Ông bảo tôi rằng: ba biết con hận ba lắm, nhưng ba lúc nào cũng là ba của con, phải không? và ông tiếp tục: ba không biết, là ba không tốt, ba sợ sau này khi con quen ai đó, gia đình người ta nhìn vào nhà mình thấy ba không tốt, sẽ không cho con quen con gái người ta. Lúc đó, tôi chết lặng, đúng nghĩa của từ đó, tôi chỉ muốn chạy tới ôm chặt ông, nhưng cái tính ích kỉ quá trẻ con của mình khiến tôi chỉ đứng đó, chăm chăm nhìn ông…

Sau đó, đột ngột một buổi sáng ông thức dậy, ông quyết định thay đổi. Ông là một trong những người mà tôi thấy khó hiểu nhất. Ông bướng bỉnh không chịu thay đổi, ngay cả khi có thể vì sự bướng bỉnh đó mà ông mất cả gia đình ông yêu thương nhất, thứ quý giá duy nhất của cuộc đời ông. Và rồi, ông lại đột ngột trở thành một người khác hẳn. Ông bỏ rượu, bỏ thuốc lá ngay lập tức, không có triệu chứng vất vả gì. Rồi ông hằng ngày thức dậy lúc 4h sáng để đi nhà thờ. Dù là muộn màng, nhưng ơn trời, lòng ông rốt cuộc cũng được bình an. Ông hay bảo đó là do bà nội tôi ở Thiên Đàng hằng ngày cầu nguyện cho ông.

Tôi học được từ cái cách tôi nhìn ông qua năm tháng rất rất nhiều điều, và tôi đang làm rất tốt. Tôi học những bài học để trở thành một tôi như hiện tại qua những trải nghiệm đích thực như thế. Tôi chưa bao giờ để mình thật sự say mất kiểm soát. Cả cuộc đời tôi từ đó tới giờ, tôi có thể tự hào nói rằng tôi hầu như chưa từng nóng giận. Tôi lì lợm theo cách mà đôi khi tôi cũng ngạc nhiên, tôi gai góc, tôi phớt đời, và tôi cũng rất đa cảm, rất yếu đuối.

Những điều tốt đẹp của cuộc đời, dạy ta theo một cách, và những mất mát, những kí ức buồn đau, lại làm công việc của nó theo một hướng khác, và phải chăng chính chúng mới tạo nên một chúng ta như hiện tại?

Ba tôi thay đổi nhiều kể từ ngày ấy, ông vui vẻ cả ngày, không còn cái bất mãn với cuộc đời thường thấy. Tuy ông không thể cùng tôi học như những ngày còn nhỏ, nhưng ông vẫn theo dõi từng bước tôi đi. Ông không bao giờ hỏi tôi về những cô gái mà tôi đang quen, nhưng ông biết rõ về họ.

Những kỉ niệm không vui của tôi về ba, giờ được thay thế bằng tiếng cười của ông những lúc ông cùng tôi chơi game. Ông chơi một trò chơi với tôi, đến mức nhiều lúc tôi đang ngồi tán gái trong game, còn bị bạn tôi bảo: thằng Cún xê ra để ta nói chuyện với bác xem nào. Những lúc như thế tôi thấy tôi và ông thật gần gũi (dù đôi khi ông hay mắng tôi vì tôi quen những đứa con gái “không ra gì”).

***

Cuộc sống ở Việt Nam rất nhàn hạ, dư ăn dư mặc, nhưng như một lần nữa, ba vẫn quyết định bỏ tất cả để qua Mỹ, vẫn với câu quen thuộc: nơi đó tốt cho con và em hơn. Qua đây, tôi đi cùng ông tới từng garage sửa xe, từng tiệm mộc, từng chợ người Việt… để hỏi người ta việc cho ông. Khi tôi chưa biết lái xe, ông chở tôi đi tới từng nơi, từng nơi để phỏng vấn, mỉm cười khi tôi bước ra khỏi công ty, an ủi tôi khi biết tôi bị họ từ chối.

Một lần tôi có cuộc phỏng vấn dài hơn ba giờ đồng hồ, khi tôi bước chân ra khỏi cửa công ty, thì thấy ông đang ngồi bên gốc cây chờ tôi. Mười năm trước, vẫn là hình ảnh đó, mười năm sau, vẫn là hình ảnh đó. Tôi biết rằng, tình yêu và niềm hi vọng của ông về tôi, sẽ theo tôi cả đời.

Ngày tôi được nhận đi làm trên Dallas, ông vào sở làm và khoe với tất cả mọi người. Khi tôi nghe mẹ tôi kể lại, tuy không ở đó, nhưng tôi vẫn cảm nhận được ông vui thế nào.

Tôi đi làm, ngày ngày vẫn nói chuyện với mẹ, vẫn chat trên YM với em gái tôi, nhưng chưa từng nói chuyện gì với ông, trừ những lần liên quan đến việc nhà này nọ. Tôi không coi đó là xa cách, giao tiếp không phải là cách duy nhất mà hai người đàn ông có thể dùng để hiểu nhau.

***

Mẹ gọi tôi, mẹ nói tôi rằng ba dạo này yếu lắm, nhưng mẹ nói ba mua bảo hiểm sức khỏe, ba không mua, vì nó mắc quá. Mẹ nhờ tôi khuyên ba. Đến lúc này, tôi mới thực sự nhận ra ba tôi đã lớn tuổi thế nào, và tôi thật sự đang thay thế ông trở thành trụ cột của gia đình ra sao.

Những đoạn kí ức đó vẫn còn, nhưng cách nghĩ của một thằng nhóc 16 tuổi không còn. Tôi chỉ còn kính trọng ba, và rất thương ông. Như lúc ấy tôi đang chạy xe, giọng mẹ nhỏ nhẹ vì sợ ba nghe thấy, nói tôi về tình hình sức khỏe của ông, tới những chữ “ba dạo này yếu lắm”, tôi buồn, rất buồn…

25102010,
B.l.u.e

tôi đang mơ giấc mộng dài

Filed Under (Another Me) by B.l.u.e on 24-10-2010

Tagged Under :

Tối Chủ Nhật, ngủ một giấc tới trưa, rồi xuống nhà nằm đọc gì đó và xem gì đó, những thứ mà đến giờ mình chẳng còn chút ý thức đọng lại xem nó là gì. Chiều mới lồm cồm bò dậy, mò đi ăn, về nhà rồi lại ngủ một giấc tới tối khuya, đói quá lái xe đi mua sandwich ăn.

Trên con đường ngắn ngủi chạy tới Subway, ngồi nghe vài bài nhạc vu vơ. Và đột nhiên, thấy buồn, buồn ghê gớm.

Như là lúc hôm qua, đứng giữa hàng chục người Mỹ bự, cụng beer với họ cả buổi, và đột nhiên ngẩn người ra, mình đang đứng nơi đâu và làm gì thế này, những thứ thế này có ý nghĩa gì với cuộc đời của mình?
Hay lại cũng như là lúc hôm qua, giữa hơn bốn chục ngàn người gào thét vang dội nơi sân vận động, đột nhiên ngồi lặng lại, những thứ này là gì, tại sao nó lại quá khác biệt so với cuộc sống thật của mình. Ừ, rồi lại nhận ra, đây mới là cuộc sống thật của mình, cuộc sống mà mình đang sống.

Còn tối nay, khi tỉnh giấc, xung quanh là một màu đen tĩnh lặng, trong đầu mình không còn tồn tại khái niệm gì về không gian và thời gian, cứ nằm đó và tự hỏi: cái thằng đang nằm đây và đang tự hỏi phải là mình không?

Đột nhiên, bùng dậy trong đầu một nỗi bực tức, một cơn giận khôn tả, kiểu như tại sao tôi-lại-đang-là-tôi-như-thế-này?

và rồi, thấy cô đơn và buồn kinh khủng…

Cứ như đang mơ những giấc mộng dài, những giấc mơ màu sắc và sự kiện hỗn loạn. Mà biết đâu, cuộc đời thực đang tiếp diễn này của mình, lại đang là trong một giấc mơ ngắn của một ai đó. Đột nhiên muốn xem Inception quá, nghe bảo nó giải thích được cái gì thực và mộng. Mà thôi, có là mơ hay thực, cũng thế mà thôi.

Tôi đang mơ giấc mộng dài
Đừng lay tôi nhé, cuộc đời chung quanh
(Phạm Duy)

24102010,
B.l.u.e

tôi ngồi đọc thư em…

Filed Under (Another Me) by B.l.u.e on 03-10-2010

Tagged Under :

Tặng Hiệp của anh

Cả tuần công việc và việc học bận rộn, mệt mỏi, ngày nào cũng đến tối mịt mới lết xác về nhà. Chính vì thế, như bao nhiêu người khác, tôi rất thích cuối tuần.

Như hôm nay là Chủ Nhật chẳng hạn, tôi nằm dài trên giường đến tận 1h trưa, cho đến khi mẹ gọi điện và cằn nhằn, mới lết xác xuống nhà. Khi xuống dưới nhà, lại ngồi chơi Modern Warfare trên XBox 360 tới 3h chiều mới lái xe đi mua gì đó ăn tạm.

Khi lái xe qua cái hộp thư đặt trước nhà, tôi nhận được thư em.

Tôi đang sống một cuộc sống rất vui vẻ. Tôi vui mỗi khi mẹ gọi điện hỏi thăm. Tôi vui khi hai bé Trung Quốc chung nhóm sau khi để tôi làm hết bài đồ án, mới nói cám ơn, và: không có cậu thì bọn mình chả biết gì. Tôi vui mỗi tháng hai lần nhận cái pay check ở công ty.

Hay như hôm nay, một chủ nhật đẹp trời, trong căn phòng, các sửa sổ kéo rèm lên hết, trên cái nệm vàng ươm màu nắng, tôi ngồi đọc thư em, và… mỉm cười vì hạnh phúc.

Hanh phúc thật giản đơn…

những bài nhạc tôi yêu về Hà Nội [p1]

Filed Under (Music) by B.l.u.e on 19-09-2010

Tagged Under : ,

riêng tặng Hiệp của anh

Người ta có nhiều lí do để yêu một thành phố nào đó. Như tôi, tôi yêu Hà Nội chỉ vì những câu thơ, những bài nhạc – hay nói đúng hơn là một Hà Nội trong trí tưởng, một Hà Nội của thời xa xôi lắm. Thật ra, không phải cứ là người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, mới có quyền yêu Hà Nội. Có nhiều nhạc sĩ, thi sĩ chưa một lần đặt chân ra thủ đô, nhưng đã có những sáng tác tuyệt vời về vùng đất này. Tôi cho rằng, họ mang tâm hồn và tính cách Hà Nội còn hơn cả nhiều người xưng mình là Hanoian thật sự.

Dĩ nhiên, trong bài viết để tặng riêng em, tôi không muốn gây nhiều tranh cãi, nên tạm ngừng cái quan điểm cá nhân ở đây. Bài viết ngắn này tặng em, không phải vì em yêu Hà Nội hay tôi yêu Hà Nội, mà là vì tôi yêu tất cả những gì liên quan đến em, đơn giản như là vùng đất em đang sống, cái bầu không khí mà em đang thở vậy.

Những ca khúc viết về Hà Nội cũng nhiều, bài này của tôi không nhằm mục đích tổng hợp lại tất cả, mà chỉ là những bài – mà theo ý kiến riêng của tôi, tôi cho là – hay nhất.

(tất cả các link download đều nằm ở phần comment cuối bài)

Hà nội 49 – Trần Văn Nhơn 1949


Hà Nội 49 luôn được xem là một trong những ca khúc hay nhất viết về Hà Nội. Trần Văn Nhơn là một trong những nhạc sĩ ở thời buổi đầu nền tân nhạc Việt Nam. Ông là một trong những nhạc sĩ hiếm hoi thời bấy giờ biết hòa âm, phối khí và chỉ huy dàn nhạc.

Khắp chốn nay điêu tàn
Nhà xiêu đổ một cảnh nát tan

Cũng cần lưu ý là Trần Văn Nhơn sinh ra và lớn lên ở miền Nam. Sau này không rõ vì lí do ông lưu lạc ra Hà Nội và trở thành nhạc trưởng ban Việt Nhạc đài phát thanh Hà Nội. Hà Nội 49 được viết khi Hà Nội đang nằm trong tay người Pháp. Thời điểm này Việt Minh từ chiến khu hay tổ chức những trận đánh úp vào Hà Nội rồi rút rất nhanh, bỏ lại một Hà Nội điêu tàn, đổ nát.

Hà Nội 49 xưa có Duy Trác và Khánh Ly hát. Sau này ca sĩ Mai Hoa cũng hát lại trong album Hà Nội 49 gồm các ca khúc của thời kì đầu tân nhạc Việt Nam. Về cảm nhận cá nhân, thì tôi thích Hà Nội 49 do Duy Trác hát nhất.

Hướng về Hà Nội – Hoàng Dương 1954

Đây là ca khúc mà tôi thích nhất về Hà Nội, và cũng được đa phần mọi người đánh giá là hay nhất.

Về ca khúc này có nhiều giai thoại, nhiều câu chuyện bên lề. Như theo lời Hoàng Dương kể lại, thì thời điểm đó Hoàng Dương đang ở Nam Định. Khi đó ông mới tầm hơn 20 tuổi, đang yêu một cô gái Hà Thành. Vào một đêm khuya, khi nghe tiếng pháo dội trong thành phố, ông bồi hồi nhớ đến cô, và thắp đèn thâu đêm để viết nên ca khúc này.

Người ta còn kể rằng nhà thơ Quang Dũng khi nghe tài tử Ngọc Bảo hát bài này, sau gặp Hoàng Dương đã ôm lấy ông và bảo: “Cảm ơn Dương, mặc dù mới được gặp cậu lần đầu nhưng tâm hồn của chúng ta đã rất giống nhau. Tớ cảm nhận được rất nhiều sự đồng điệu trong đó”.

Tôi nghe Hướng về Hà Nội của Hoàng Dương, ngay từ đầu đã chết mê mệt những câu đầy ý thơ, đầy ngọt ngào và hoài niệm. Ngay từ câu đầu

Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi…

hay những câu

Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê…

và đặc biệt là thời điểm này, mỗi khi chạy xe, nhìn ra ngoài cửa kính mưa đang đọng lại thành từng vệt, từng vệt, rất buồn và đơn độc, mỗi lần nghe tới

Hà Nội ơi, mắt huyền ngây ngất đê mê,
Tóc thề thả gió lê thê, hãy tin ngày ấy anh về

tôi đều nở một nụ cười…

Hình ở trên là bìa đĩa do Tinh Hoa Miền Nam xuất bản, họa sĩ Duy Liêm trình bày. Bên trong bài hát có câu đề tựa: “Riêng tặng Hoàng Trọng, bạn thân yêu…”

Hoàng Trọng và Hoàng Dương là 2 người bạn khá thân. Chính Hoàng Trọng đã một phần gíup ca khúc Hướng về Hà Nội đến với đông đảo người yêu văn nghệ, bằng cách giới thiệu ca sĩ Kim Tước để hát bài này.

Sau, có nhiều ca sĩ khác như Thanh Thúy, Lệ Thu, Tuấn Ngọc, Hồng Nhung, và gần đây là Quang Dũng trình bày. Nhiều người hay cho rằng bản của Lệ Thu là hay nhất, vì giọng của Lệ Thu rất điêu luyện, dễ mê hoặc lòng người.

Cá nhân tôi, tôi lại thích version đầu tiên mà Kim Tước hát. Nó không hẳn là hay nhất, nhưng tôi cảm nhận cái nét buồn man mác, nét hoài niệm về một Hà Nội đẹp như thơ, qua từng nốt nhạc, từng câu chữ của tác giả.

Giấc mơ hồi hương – Vũ Thành – sau 1954

Người ta ít biết tới Vũ Thành, vì nhìn chung ông sáng tác nghệ thuật vị nghệ thuật, đòi hỏi ông đặt ra khi sáng tác rất cao. Theo nhạc sĩ Phạm Duy thì Vũ Thành là một trong hai nhạc sĩ Việt Nam trong ban nhạc hòa tấu đầu tiên ở nước ta. Vũ Thành là người đi tiên phong trong việc sử dụng những cung điệu mới so với cung Ré thứ ủ rũ, buồn đến nao lòng trong nhạc của Văn Vao, Đặng Thế Phong trước đây.

Ngoài lề xíu, Phạm Duy từng gọi Vũ Thành là nhạc sĩ đẹp trai nhất nước. Khâm phục ông ghê, tài sắc vẹn toàn.

Quay lại, Giấc mơ hồi hương sau năm 1954 được những người miền Bắc di cư vào Nam xem như kinh nhật tụng, ngày ngày hát lên và nhớ về một Hà Nội thân thương, một Hà Nội mà có lẽ cả đời cũng không bao giờ thấy được. Ngay như bản thân tác giả, cũng đã qua đời trước khi có dịp biến Giấc mơ hồi hương thành sự thật.

Từng từ, từng câu trong Giấc mơ hồi hương đều rất đẹp, rất gợi cảm xúc

Rồi đây dù lạc ngàn nơi
Ta hướng về chốn xa vời
Tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai
Nghẹn ngào thương nhớ “em”… Hà Nội ơi

Hà Nội hiện ra như hình ảnh một cô gái

Ta nhớ thấy em một chiều chớm thu
Dáng yêu kiều của ngày đã qua

Giấc mơ hồi hương là một trong những ca khúc rất khó hát, đòi hỏi giọng người hát phải thật khỏe. Vì thế trong giới ca sĩ, không mấy người đủ khả năng để hát nhạc của ông. Có phải vì vậy mà ca khúc này ít được phổ biến rộng rãi?

Về các version của ca khúc này, tôi đã nghe những giọng nữ như Khánh Hà, Lệ Thu, Thái Thanh… giọng nam như Sỹ Phú, Anh Ngọc hát, gần đây thì có Ngọc Hạ cũng hát lại. Không đủ trình độ để đánh giá chất giọng nào hay nhất, nhưng, một lần nữa, theo cảm nhận của cá nhân, tôi thấy “Giọng hát trượng phu” Anh Ngọc là hợp nhất, dù version tôi có chất lượng bản thu âm rất tệ. Nhưng biết làm sao hơn?

Nghẹn ngào thương nhớ “em”… Hà Nội ơi


Người Hà Nội – Nguyễn Đình Thi – 1947

Người Hà Nội được Nguyễn Đình Thi sáng tác vào năm 1947, theo như lời tác giả thì bài hát được ra đời trong một chuyến công tác tại một ngôi làng nhỏ bên bờ sông Nhuệ.

Đôi khi tôi không hiểu lắm về việc mình thích bài này, vì vốn dĩ tôi chỉ thích một Hà Nội đẹp và yên bình. Nhưng quả thật bài Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi, tuy nội dung chủ yếu là những câu thấm đậm tinh thần quật cường, đấu tranh như

Mỗi tấc đất Hà Nội đượm thắm máu hồng tươi…

Hay tuyên truyền như

Bùng cháy khắp phố ta ơi! Vùng lên, chiến sĩ ta ơi! Trời Hà Nội đỏ máu.

nhưng đôi chỗ vẫn có những câu rất đời thường, rất bình dị

Hà Nội vui sao, những cửa đầu ô.
Tíu tít gánh gồng đây Ô Chợ Dừa, kìa Ô Cầu Rền, làn áo xanh nâu, Hà Nội tươi thắm.
Sống vui phố hè. Bồi hồi chàng trai, những đôi mắt nào. Quanh co, chen quanh rộn ràng Ðồng Xuân, xanh tươi bát ngát Tây Hồ, hàng
Ðào ríu rít Hàng Ðường, Hàng Bạc, Hàng Gai.
Ôi tha thiết lòng ta biết bao nhiêu

Ngoài lề một chút, theo tôi thì chỉ bằng đoạn này thôi, cũng đã đánh bại được cái gì mà báo chí khen ngợi quá lời về những sinh hoạt bình dị của người dân Hà Nội được khắc họa rõ nét trong bài Hà Nội Boogie, và còn một vài độc giả đề nghị nên trình diễn ở dịp đại lễ.

Nếu có bài nào được trình diễn, thì đó nên là bài Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi, đầy hào hùng, đầy quật cường nhưng đôi đó vẫn ẩn hiện một Hà Nội rất thơ, rất đẹp.

À, trước đây tôi hay nghe bài này do Lê Dung hát, gần đây nghe Lan Anh (Lan Anh là một giọng ca hiếm có, tuy ở nhiều chỗ còn kém Lê Dung, nhưng cũng có thể coi là độc đáo vô cùng ở Việt Nam thời điểm này) hát cùng dàn hợp xướng. Nếu xét về giọng hát, thì tôi vẫn thích Lê Dung hơn, nhưng version này hát với dàn hợp xướng thì hay hơn, đủ chất hào hùng cần có của một bài nhạc như thế này.

Vì vậy, tôi thích bài này do Lan Anh và dàn hợp xướng hát nhất (không biết Lê Dung có version nào như thế không, hay tôi chưa tìm ra nhỉ?)

Tiến về Hà Nội – Văn Cao – 1949

Văn Cao là nhạc sĩ mà tôi hâm mộ nhất trong tất cả các nhạc sĩ Việt Nam từ xưa tới nay, cả về nhạc, thơ, lẫn tính cách của ông. Nói về những giai thoại về Văn Cao thì cả ngày cũng không hết. Riêng bài Tiến về Hà Nội này cũng có nhiều điểm đáng lưu ý.

Bài Tiến về Hà Nội được viết trước ngày Giải phóng Thủ Đô những 5 năm, nhưng từng lời ca của bài hát vẫn mô tả được chính xác cái không khí tưng bừng, trùng trùng quân đi như sóng sau đó.

Theo lời Văn Cao, thì ông sáng tác bài này

“Tôi sáng tác Tiến về Hà Nội trong một đêm thu, bầu trời trong vắt, đầy sao, không gian tràn ngập ánh trăng và thơm ngát mùi lúa ngậm đòng” (Trích trong “Văn Cao – đời và người”).

Thực ra bài này tôi không nghe thường xuyên lắm, nên không biết được bài này ca sĩ nào hát hay nhất. Gần đây tìm được version do dàn hợp xướng trình bày, thấy nghe cũng hay. Nên gởi lên đây vậy.

Thật, chỉ cần nghe câu đầu Trùng trùng quân đi như sóng, lớp lớp đoàn quân tiến về thôi là đã thấy hào khí nổi lên rồi…

[còn tiếp]