hình nhân non yếu

Filed Under (Music) by B.l.u.e on 31-01-2011

Tagged Under :

null

Trong truyện Kim Dung có những ông thần si tình đến mức phát sợ. Hơn mười năm đọc truyện chưởng của tôi, đọng lại trong đầu không phải là những trận chiến long trời lở đất, những bộ võ công danh trấn thiên hạ, mà là hình ảnh những kẻ si tình. Chỉ bởi vì tôi thấy mình không làm được như thế.

Đoàn Thị Đại Lý Đoàn công tử, chỉ để đổi lấy một nụ cười của Vương Ngọc Yến mà không tiếc bất cứ điều gì: Cái vui chân chính của ta là làm cho nàng được vui lòng, có vậy ta mới là yêu thương nàng, chân thành đến mức mặt dày mày dạn đi khuyên Mộ Dung Phục từ bỏ giấc mộng phò mã Tây Hạ.

Bách thắng đao vương Hồ Dật Chi, một trong những cao thủ nổi tiếng trong Lộc Đỉnh Ký, chỉ vì yêu đến si mê Viên Viên mà ở Tam Thánh Am làm những việc vụn vặt, mong được bên người trong mộng. Nàng chưa từng ngó mặt ta. Nàng coi ta như một gã quê mùa… Ta chỉ mong ngó trộm được nàng một cái là đã thỏa lòng

Gã đầu sắt Du Thản Chi trong Thiên Long Bát Bộ, vì A Tử – một kẻ không yêu mình mà
Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt
Tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em

Lụy tình hay si tình không ai có thể phán xét, chỉ cần người trong cuộc thấy đáng là đủ.

***

Nhạc sĩ Lữ Liên là linh hồn của band nhạc trào phúng nổi tiếng trước 1975 – band AVT. Ngoài ra, ông còn biết đến với việc có nhiều bài nhạc hay. Một trong những bài được biết đến nhiều nhất của ông là Lạc mất mùa xuân, rất thành công qua tiếng hát của Anh Tú và Tuấn Ngọc

Thương bèo trôi theo muôn hướng
biết bây giờ em lạc bước về đâu
Em ơi, chờ em đến kiếp nao?
Xin cho ngày sau, mình mãi bên nhau.

đã ru hồn người qua bao nhiêu thế hệ.

Bài Lạc mất mùa xuân nhạc nguyên là một bài hát Pháp của Jean-Charles Lafon, có tên là Le Géant De Papier (dịch ra là Người khổng lồ bằng giấy). Giống như phần lớn các sáng tác nhạc ngoại lời Việt thời bấy giờ, Lữ Liên chỉ mượn nhạc, còn lại lời bài hát Lạc mất mùa xuân hoàn toàn khác với ý nghĩa của tác phẩm gốc.

Nhạc sĩ Quốc Bảo sau đó đã dịch khá sát nghĩa bài đấy thành Hình nhân non yếu, được Lê Hiếu trình bày thành công ở Đêm Hiền của nữ ca sĩ Thái Hiền.

Lạc mất mùa xuân ngoài việc khác hoàn toàn với lời tác phẩm gốc, thì ca từ cũng rất hay và đẹp. Tôi thích cả hai bài này, tuy nhiên ưu ái bài Hình nhân non yếu hơn, vì…

Khi nàng trong mơ thấp thoáng
Trái tim của tôi bằng thép chảy tan
Xôn xao đường cong xôn xao gió
Biến tôi thành ra hình nhân non yếu
Thân mềm em trong tay ấm
Vẫn run vì em cành liễu nhỏ nhoi
Xin em nằm ngoan trong tiếng ru
Có tôi hình nhân quỳ dưới chân nàng

***

Bạn gái tôi ngày xa xưa nọ có lần nói với tôi hai điều:
- Em sẽ không bao giờ rời khỏi Việt Nam!
- Em không đủ dũng cảm để yêu xa đâu.

Khi nhận được tin rằng mình sắp đi, tôi không nghĩ rằng mình sẽ vì em mà ở lại. Tôi không phải là một kẻ si tình đến mức đó. Nhưng mà, tôi lại thấy rất thích và phục những kẻ si tình.

Chỉ là chút vụn vặn khi nghe lại Hình nhân non yếu

310111,
B.l.u.e

In the Aeroplane Over the Sea

Filed Under (Music) by B.l.u.e on 28-01-2011

Tagged Under : ,

null

In spite of everything, I still believe that people really are good at heart…

Trong cuốn Nhật Ký mà sau này nổi tiếng trên toàn thế giới của mình, cô gái trẻ Anne Frank đã có lần viết như thế. Anne Frank là một trong những cái tên được biết đến nhiều nhất khi nhắc đến cuộc tàn sát chủng tộc (holocaust) giết hại gần 6 triệu người Do Thái do Đức Quốc Xã tiến hành.

Những ai đã có dịp xem qua bộ phim nổi tiếng từng đoạt nhiều giải Oscar Schindler’s List ắt sẽ phần nào hiểu được sự tàn bạo của bọn SS, đồng thời thương cảm cho dân Do Thái, những con người lúc nào cũng phải sống trong tâm trạng chờ chết, chỉ bởi cái kế hoạch die Endlösung der Judenfrage điên rồ của Hitler.

Các bộ phim nổi tiếng của những tay đạo diễn điện ảnh lừng danh như Steven Spielberg, Roman Polanski… khiến người xem xúc động bằng ngôn ngữ điện ảnh, thì cuốn Nhật Ký của Anne Frank lại tác động đến hàng triệu triệu người theo một cách khác, với những ngôn từ giản đơn nhưng chất chứa đầy tâm trạng của một cô gái đang tuổi mới lớn. Cuốn Nhật ký của Anne Frank là một trong những quyển sách được đọc rộng rãi nhất trên thế giới, có người đã viết trong cuốn sổ dành cho các du khách tại tòa nhà số 263 đường Prinsengracht – nơi cô từng ẩn náu như sau: Nếu chỉ có hai cuốn sách dành cho cuối cuộc đời của tôi, hai cuốn này sẽ là cuốn Thánh Kinh và cuốn Nhật Ký của Anne Frank…

***

Vài dòng viết sơ lược giới thiệu về Anne Frank để nói đến một trong những album mà tôi thích nhất, và theo ý kiến của tôi là hay nhất trong dòng indie rock – album In the Aeroplane Over the Sea của ban indie rock Mỹ Neutral Milk Hotel. Mới nghe In the aeroplane over the sea lần đầu, dù có ngờ ngợ vì cái chất rất quái trong lời nhạc của ban này, tôi vẫn không nghĩ nhiều lắm. Nhưng sau đó, vì thắc mắc bởi vài chi tiết trong lời của một bản nhạc, tôi thử tìm kiếm trên Internet một hồi, và đọc được đâu đó rằng đích thân tay guitar và thủ lĩnh của band là Jeff Mangum thừa nhận trong một buổi trình diễn là album này lấy cảm hứng từ cuộc đời của Anne Frank.

null

Jeff Mangum là một tay rất tài, dưng mà chẳng hiểu sao ngoài cái album được nhắc đến trong bài này, thì những album còn lại thuộc dạng chả gây hứng thú lắm. Chất giọng của Jeff trong album này tuy không có ảo cùng cực như Thom Yorke của Radiohead, nhưng cái mớ hỗn độn cảm xúc mà tay này cùng Neutral Milk Hotel tạo ra, so với Ok Computer – album nổi danh của Radiohead, hay thậm chí là St.Pepper của huyền thoại The Beatles chả hiểu sao rất gần nhau, và quen quen đến lạ.

Điểm khác biệt của một album được lấy cảm hứng từ một nhân vật nào đó, và một album nói về một nhân vật hay sự kiện nào đó rất rõ ràng. Đến khi Jeff nói rằng bản thân mình rất thích và bị ảnh hưởng bởi cuốn Nhật ký của Anne Frank và album cũng thấp thoáng hình ảnh về cuộc đời và tâm trạng của cô, thì người nghe nghe lại, mới giật mình phát hiện ra đúng như thế. Chất nhạc vốn mập mờ, ma quái của In the Aeroplane over the Sea nay kết hợp với vài chi tiết ứng với cuộc đời và cái chết của cô gái nổi tiếng ấy, đem lại cho mọi người cái cảm giác đặc biệt.

Tôi nghe lại In the Aeroplane over the Sea khi biết được mối liên hệ rất mỏng nhưng xuyên suốt ấy, cảm giác trong tôi rất lạ. Đó có một phần xúc động đến ngẩn ngơ như khi xem thấy hình ảnh Oskar trong Schindler’s List đứng nhìn theo cái xe cút-kít chở xác người dân Do Thái, khung cảnh trắng đen ấy, nổi bật lên cái cô bé với bộ váy màu hồng nhạt – hình ảnh có màu ngoài trắng đen hiếm hoi trong phim; một phần hoàn toàn thương cảm, rất thương, khi nghe tới đoạn nhắc đến vụ thảm sát trong track Oh Comely; thậm chí cảm được cả cái tâm trạng bình an hiếm thấy của cô bé Anne Frank trong những ngày ẩn nấp.

Như đã nói, Anne Frank là hình ảnh xuyên suốt trong album này của Neutral Milk Hotel, nhưng lập lòe, chỗ thì rất mơ hồ, chỗ lại hoàn toàn rõ nét. Vì thế, phân tích từng track tìm hiểu ý nghĩa đích thực của lời nhạc dường như là điều rất khó, nếu không muốn nói là không thể được, vì cái gã Jeff Mangum ấy đã thành công trong việc tạo ra không gian âm nhạc ảo đến thế.

Dưng mà cũng thử điểm qua vài khúc có liên hệ tới Anne Frank thử. Rõ nét nhất là bài Holland, 1945 với khúc

The only girl I’ve ever loved
Was born with roses in her eyes
But then they buried her alive
One evening, 1945

Để chỉ tới việc Anne Frank và gia đình bị Đức Quốc Xã phát hiện tại một căn nhà nhỏ nơi Amsterdam, bị bắt đi, hai chị em bị đưa vào trại tập trung và qua đời vào năm 1945.

hay nói rõ hơn về cuộc thảm sát trong bài Oh Comely

I know they buried her body with others
Her sister and mother and 500 families
And will she remember me 50 years later?
I wished I could save her in some sort of time machine

hay, một lần nữa, đề cập tới mốc thời gian chính xác, trong bài Ghost

And she was born in a bottle rocket, 1929

I know that she will live forever
She won’t ever die

Anne Frank sinh năm 1929…

Một album đầy cảm xúc khiến tôi nghe nhiều lần vẫn không thấy chán. Tôi cũng không muốn đi sâu phân tích, xin nhắc rõ, đây không phải là một bài bình luận, cảm nhận album, chỉ là vài tâm trạng chia sẻ khi nghe album hay đến thế. Việc còn lại, nếu các bạn muốn đi sâu hơn vào nghệ thuật, âm nhạc, cách ban chơi nhạc… trong album này, đấy lại là chuyện của các bạn.

Xin mượn một đoạn lyrics mà cá nhân tôi thấy là rất đẹp, để làm kết thúc cho bài này

And one day we will die
And our ashes will fly
From the aeroplane over the sea
But for now we are young
Let us lay in the sun
And count every beautiful thing we can see

Và một ngày chúng ta đều sẽ chết
Tro bụi thân tàn sẽ bay bay
Từ tàu bay nơi phía trên biển cả
Thế nhưng, giờ đây, chúng ta đều còn trẻ
Hãy cứ nằm trong ánh dương
Và cùng ngắm tất cả những điều đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể được thấy

Anne Frank – một cô gái yêu cuộc đời, khao khát được sống đến cháy bỏng, nhưng không thể… vì vậy, hãy trân trọng những gì tốt đẹp mà cuộc đời đang mang lại…

And count every beautiful thing we can see…

280110,
B.l.u.e

Tình ca Việt Nam – Nguyễn Đình Toàn

Filed Under (Music) by B.l.u.e on 13-01-2011

Tagged Under : , ,

Nền âm nhạc Việt Nam ngày xưa rất lí thú. Cái sự lí thú ấy được tạo nên không phải chỉ bởi những ‘quái kiệt’ – những con người mà cả cuộc đời lẫn sự nghiệp đều được coi như là giai thoại, mà còn bởi những người tưởng như thật bình thường; bình thường đến mức đôi khi ta sợ rằng, họ chỉ sống trong trí tưởng của một lớp người ít ỏi và cụ thể nào đó; và rằng, một ngày, của chục năm sau chẳng hạn, sẽ chẳng còn ai nhớ đến họ, những con người tưởng như bình thường sinh ra trong một giai đoạn thú vị.

Dần dần, theo cái vòng quay hối hả vô cùng của bánh xe thời gian, chẳng còn ai nhớ tới những cái tên đó nữa. Người ta sẽ quên họ, như cách mà người ta đứng nhìn về những tháng ngày xa cũ của đất nước với con mắt của một-người-chứng-kiến, chứ không hoàn toàn có cảm giác thân thuộc – như rằng, cái tháng ngày xa xưa ấy, sao lại có phần nào khiến mình đồng cảm, khiến mình có cảm giác như một phần của mình thuộc về nó như thế?

Nhưng, chính những cái tên tưởng như bình thường, và rồi, một ngày nào, sẽ chỉ còn được dăm ba người nhắc đến trong những bài viết tưởng nhớ, lại đóng một phần không nhỏ góp phần tạo nên một nền văn hóa – nghệ thuật rất đa dạng, phong phú, rất hay nhưng cũng rất dị ngày đó.

Nguyễn Đình Toàn là một người như vậy.

***

Nguyễn Đình Toàn không phải là một cái tên mà người ta nghĩ ngay đến khi nhớ về nền văn nghệ Việt Nam ngày xưa. Đóng góp của ông không to lớn một cách gây ‘sững sờ’, nhưng cũng hoàn toàn không phải là nhỏ lắm. Dzoãn Mẫn với ‘Biệt ly’ đi vào lòng lịch sử âm nhạc nước nhà như là một trong những ca khúc đầu tiên của nền tân nhạc được đông đảo giới trẻ yêu thích; Đặng Thế Phong với ‘Thu ca tam tuyệt’ và những giai thoại quanh cuộc đời và cái chết đầy tiếc nuối của ông, cũng luôn ngự trị trong lòng những người yêu nhạc.

Không thể nói gì về việc Nguyễn Đình Toàn và những văn nghệ sĩ còn lại ai hơn ai, vì đơn giản, cảm nhận là thứ gì đó không ai cưỡng cầu được. Nhưng quả thật, Nguyễn Đình Toàn cũng góp một phần công không nhỏ để mang âm nhạc đến với đại chúng người nghe, chỉ có điều đóng góp của ông khá thầm lặng.

Nguyễn Đình Toàn trước tiên là một nhà văn, nhà thơ trong nhóm Sáng Tạo khá nổi tiếng trước năm 1975. Nhưng ông được biết tới nhiều không phải bởi những bài văn, bài thơ của ông, dù trong đó có vài bài khá, như Hiên Cúc Vàng, Khi Em Về… Người ta cũng thích ông qua những bài nhạc, như Em Còn Yêu Anh – mà lần đầu nghe Tuấn Ngọc trình bày, tới hai câu

Ta đã xanh úa như đời xa cõi chết
Có bao giờ ta thấy lại nhau không…

hay

Có nhiều khi, một người đi mà như mất thiên đường…

tôi đột nhiên thấy run cả người vì cảm được cái tâm trạng sầu thảm của bài hát.

Hoặc nổi tiếng hơn là bài Em đến thăm anh đêm ba mươi, một trong những bài nổi tiếng nhất trước 1975. Và, những ai yêu nhạc cũng hẳn còn nhớ đến Tình khúc thứ nhất, viết chung với Vũ Thành An, mở đầu cho loạt Bài không tên nổi tiếng sau này. Tình khúc thứ nhất với những lời nhạc lay động lòng người

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường

Lạc đề lan man quá, mỗi khi nhắc tới nhạc xưa, dường như tôi không có cách nào kiểm soát nổi cảm xúc của mình, cứ để nó đi xa quá.

Đại loại, điều mà khiến Nguyễn Đình Toàn được đông đảo người dân miền Nam trước những năm giải phóng yêu thích là chương trình “Nhạc chủ đề” trên sóng phát thanh của ông. Ngày ấy hàng triệu thính giả ở miền Nam chỉ đợi đến mỗi tối thứ Năm để nghe những lời dẫn quen thuộc:

Tình ca – những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người – bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau… Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…

Cái thời khói lửa núp mình trong lớp vỏ bình an đấy, khi mà những thông tin về chiến tranh, bom đạn ngoài trận tuyến vẫn tràn về mỗi ngày, mỗi giờ, thì những giây phút hiếm hoi được hòa mình vào trong dòng nhạc trữ tình thật quí giá biết chừng nào. Và chương trình “Nhạc chủ đề” với giọng dẫn truyền cảm của Nguyễn Đình Toàn đã góp phần ru hồn người bằng những khúc ca.

Ngày đó, có hai chương trình phát thanh nổi tiếng, ngoài chương trình của Nguyễn Đình Toàn ra còn có “Tiếng nhạc tâm tình” của ca sĩ nổi danh Anh Ngọc, do nhà văn Mai Thảo đọc lời dẫn. Nếu nói về giọng dẫn, thì cả hai nhà văn đều có chất giọng cuốn hút như nhau. Nhưng cái cách mà Nguyễn Đình Toàn nhỏ nhẹ, dịu dàng dùng những từ dẫn nhập như ‘Hỡi em yêu dấu…’ khiến người ta tò mò, thích thú hơn.

Một điểm khác biệt nữa là chương trình của Nguyễn Đình Toàn thời đó hay mời những tay tài tử, hát cho vui, điển hình như luật gia Duy Trác, kĩ sư địa chất Võ Anh Tuấn đến trình bày. Nói lan man ra xíu, cá nhân tôi nghe nhạc xưa, lâu lâu được một bài mà ca sĩ “rặc” giọng miền Nam hát, thấy thích thú gì đâu. Điển hình như bài Chiều mưa biên giới với tiếng hát của quái kiệt Trần Văn Trạch. Tôi nghe bài này vào một chiều mưa âm u, khi đang lái xe, giọng Nam Bộ cùng làn hơi ấm áp của tay quái kiệt ấy, thật hợp với không khí của một chiều mưa biên giới. Và sau Trần Văn Trạch, Võ Anh Tuấn là một trong những ca sĩ hát “rặc” giọng Nam trình bày các ca khúc có hồn nhất.

Qua chương trình này, nhiều bài hát của Trịnh Công Sơn “những bản tình ca không có hạnh phúc”, qua tiếng hát của “góa phụ chiến tranh” Khánh Ly được lan tỏa rộng rãi tới người nghe.

Sau này, vào năm 1970, Nguyễn Đình Toàn cho ra mắt băng nhạc “Tình ca Việt Nam”, gồm những bản nhạc bất hủ của nền nhạc tình Việt Nam, với sự góp mặt của các tên tuổi mà giờ đây đã thành huyền thoại như Duy Trác, Sĩ Phú, Khánh Ly, Lệ Thu, Thái Thanh… Ban nhạc góp mặt lúc đó cũng toàn những nhạc công nổi tiếng của miền Nam bấy giờ là ban nhạc Nhật Bằng, với tiếng dương cầm của Nghiêm Phú Phi và Lê Vũ Lê Văn Chấn, tiếng vĩ cầm của Ðan Thọ, Tuấn Khanh, Phạm Văn Phúc, Ðào Duy… tiếng clarinette của Ðỗ Thiều và Lê Ðô, tiếng đại hồ cầm của Nhật Bằng, nhịp trống của Trần Quang Mây..

Điểm đặc biệt nhất mà tôi thích ở băng nhạc này, không phải ở những giọng ca đang lúc đỉnh cao của sự nghiệp, cũng không phải bởi một ban nhạc không thể chất hơn, mà là ở lời dẫn đầu trầm ấm, cuốn hút của Nguyễn Đình Toàn. Đôi khi tôi có những suy nghĩ kiểu: Thủy Hử mà thiếu lời bình của Kim Thánh Thán thì cũng như những bài nhạc này thiếu lời dẫn của Nguyễn Đình Toàn. Cái cảm giác ấy nó thật vi diệu. Dù những lời dẫn của Nguyễn Đình Toàn có liên hệ tới bài hát không nhiều, nhưng một khi đã nghe rồi, thì bỏ nó ra, lại thấy thiếu thiếu gì đó.

***

Tình ca Việt Nam của Nguyễn Đình Toàn là một trong những album tôi hay nghe nhất khi rảnh, nhưng chỉ đột nhiên hôm nay mới có cảm hứng viết vài dòng về ông, và về album này. Tôi run người khi nghe “Hà Nội ơi, những ngày vui đã ra đi, biết người có nhớ nhung chi, hết rồi giây phút phân ly” (Hướng về Hà Nội) hay “Em nhớ cho, Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa” thì cũng đầy xúc cảm khi nghe những lời dẫn của Nguyễn Đình Toàn như

Anh bỗng nhận ra anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hai thành phố…

hay

Anh hãy tha thứ nỗi khổ đau em đang chịu đựng, và nếu yêu em xin hãy tha thứ nguồn vui của em…

hoặc giả

Ôi những bông hoa nở bằng nước mắt đau thương nhỏ trên hạnh phúc. Có bao giờ chúng ta sống được hai lần hạnh phúc của mình…

Mỗi lần nghe album này, tôi tưởng tượng rằng như có một phép màu nào, xoay ngược lại thời gian. Kìa tôi, trong một hình hài nào đó, giữa đêm lập lòe ánh điện, đang ngồi áp tai vào radio, ngồi nuốt từng lời dẫn của Nguyễn Đình Toàn, thả hồn vào những giai điệu đẹp tuyệt vời của những bản tình ca không bao giờ tàn lụi…

130111,
B.l.u.e

Charles

Filed Under (Another Me) by B.l.u.e on 03-01-2011

Tagged Under :

Khi Vienna kể với tôi rằng, cô ấy đã khóc rất nhiều trong bữa tiệc chia tay người bạn sau khi hai người tốt nghiệp cao học và ai sẽ phải về nước của người ấy, tôi mỉm cười và khuyên cô những câu sến ngập ngụa như Thanh sơn bích thủy, Hậu hội hữu kỳ (Non xanh vẫn đó, nước biếc còn đây, ngày sau ắt gặp lại)… Vậy mà, tối hôm qua, và cả sáng hôm nay, tôi đã gần như rơi nước mắt.

Cái thước đo duy nhất của hai chữ ‘bạn bè’, nó không nằm ở cái khoảng cách xa – gần, nó không nằm ở lớp bụi thời gian, nó đơn giản chỉ là một ý niệm – cảm thấy là bạn bè, ắt hẳn là bạn bè. Đấy phải chăng mới là thứ tình cảm bạn bè chân chính?

***

Tôi và Charles biết nhau tầm được tám tháng. Ông là người bạn Mỹ đầu tiên của tôi và cũng là người bạn đầu tiên của tôi trên nước Mỹ. Nếu nói là bạn thân, bạn tâm giao hiếm hoi trong đời, kể cũng đúng. Tôi quen rất nhiều, những người tôi từng coi là bạn bè, giờ đây nhiều cái tên đã dần phai mờ trong trí tưởng. Tôi quen, quen nhiều lắm. Nhưng những người mà tôi xem như bạn tâm giao không có mấy người. Đó không phải là tôi đặt một cái tiêu chí cao cho hai chữ “tâm giao” ấy. Đấy đơn giản vì chỉ có những người ấy, không phải ai khác, khiến trong tôi dâng tràn cái ý niệm tuyệt vời của hai tiếng “tâm giao”.

Charles hơn tôi tầm 18 tuổi. Charles và tôi không đơn thuần là hai thế hệ khác nhau, đó còn là hai nền văn hóa khác nhau, hai hệ tư tưởng khác nhau. Charles là con người của một nước Mỹ phồn hoa, nhưng mê những giá trị xưa cũ – những bài nhạc của thập niên 70, 80, những bộ phim mà ông gọi là “kinh điển”. Tâm hồn tôi thuộc về một Việt Nam xưa cũ, thuộc về cái lớp bụi mịt mù phủ trên con đường làng quê, thuộc về một Hà Nội đầy hoài niệm, một Sài Gòn bát nháo, bon chen. Nhưng, tôi và ông rất hợp, ngay từ những giây đầu tiên tôi gặp ông.

Những ai từng biết tôi, ắt sẽ rõ khoảng thời gian đầu tiên của cái mà người ta hay gọi là “Giấc mơ Mỹ”, với tôi, nó khó khăn đầy trắc trở như thế nào. Bước ngoặt của tôi đến vào lúc tôi nhận được cuộc gọi đi thử việc ở một công ty bên này. Tôi chưa bao giờ là một kẻ thiếu tự tin, kể cả khi đứng trước hàng trăm người bình luận, hay khi quyết định lao vào những cuộc yêu mà ai đó đều nói sẽ không có kết quả. Nhưng khi cái máy bay mang số hiệu gì chả rõ, hạ cánh cái ầm xuống Dallas, tim tôi đập nhanh, tay chân lóng ngóng, đôi mắt dáo dác đảo xung quanh, đến mức nếu mà nhìn mặt tôi không ngu ngu bẩm sinh như thế, ắt an ninh sân bay đã tưởng tôi là khủng bố gì đó rồi. Sở dĩ tôi căng thẳng thế, vì tôi biết đây là cơ hội tốt và hiếm hoi, và tôi buộc phải nắm lấy, nếu muốn biến cái “Giấc mơ Mỹ” của tôi thành một cơn mộng đẹp. À, cũng khổ, mới tốt nghiệp ra trường ở Việt Nam đã đi định cư, lần đầu tiên đi làm, đã lại làm ở một công ty nước ngoài, với những người đến từ một nền văn hóa khác, nói những thứ tiếng mà tôi lúc đó khó có thể hiểu trọn.

Tôi bước vào phòng họp công ty, quanh cái bàn tròn là những khuôn mặt đầy xa lạ đang mỉm cười, gắng nặn ra một nụ cười duyên dáng nhất mà cái mỏ đang cứng đơ của tôi có thể tạo thành, lần lượt bắt tay giới thiệu với từng người. Sau khi ngồi xuống, tôi phát hiện có một gã nhìn tôi rất ‘kì lạ’, với cái cười ‘gian gian’ – sau tôi mới biết đó là kiểu cười đặc trưng của tay ấy. Hết buổi họp, tay ấy, và lúc đó khi nhắc lại tên, tôi mới nhớ là Charles hỏi tôi ngay: I know your English is not good, but don’t worry…

Ngồi hí hoáy sắp đặt cái không gian làm việc đầu tiên của một mình một lúc, là tới trưa rồi, Charles tới, câu đầu tiên ổng bảo là: We will go to a Vietnamese restaurant near here, I don’t know whether you wanna join us, it is quite good. Tôi trả lời ngay: What did you think when you said that, I am Vietnamese…, à dĩ nhiên là với thứ tiếng Anh ngọng ngịu.

Khi tôi lên đây thử việc ba tuần, công ty thuê một phòng khách sạn cho tôi ở. Và Charles đảm nhận nhiệm vụ đưa đón tôi mỗi ngày. Mỗi sáng, tôi đều ngồi ăn điểm tâm ở sảnh khách sạn, chờ Charles lái cái xe Audi đẹp đẽ tới. Chúng tôi lên xe, ghé Starbucks và nói đủ chuyện trên trời dưới biển. Ngay từ những lần đầu tiên, bọn tôi đã nói về chiến tranh Việt Nam, về Uncle Ho, về how fucking hilarious Vietnamese girls are… Khi lên tới freeway, lại mở cửa xe ra, gió thổi vào lồng lộng và cùng gào thét những bài của The Beatles, The Police…

Ở khách sạn được tầm một tuần, Charles bảo tôi chuyển tới ở chung với ổng cho đỡ buồn, nhà ổng còn phòng trống. Thế là tôi lần nữa xách vali đi. Tới căn nhà của Charles, tôi cùng ông bắt đầu nấu những món ăn Việt Nam – phù, dở tệ, cùng ngồi loay hoay chơi Dynasty Warrior, Call of Duty, Medal of Honors… trên XBox, Playstation mỗi tối.

Charles giới thiệu cho tôi những bộ phim kinh điển của Mỹ, ngồi giảng giải cho tôi luật bóng bầu dục, nói như ông là: wanna teach you the real American cultures… Có những chiều nóng nực, tôi cùng ông ôm hai con chó nhảy ùm xuống hồ. Có những đêm dịu mát, chúng tôi xách kính viễn vọng ra nhìn lên bầu trời trăng sao xa thăm thẳm, cùng bàn kế hoạch sẽ làm gì khi người ngoài hành tinh tấn công trái đất. Charles dắt tôi đi hết các tiệm ăn ngon ở Dallas, cùng tôi đi mua đồ ở chợ Việt Nam. Đến lúc ông đi mua súng, tôi cũng đi cùng ông. Rồi tôi và Charles cùng nhau đi bắn súng – lần đầu tiên trong đời tôi bắn súng thật. Rất nhiều, rất nhiều kỉ niệm.

Sau đó, tôi về lại Houston một tuần chờ quyết định xem công ty có nhận tôi không. Khi tôi lên lại đây làm việc, tôi cùng Charles lái xe vòng vòng, đi tìm nhà, rồi cùng nhau dọn nhà.

Charles quen bất cứ ai, đều dắt về nhà và hỏi tôi nghĩ thế nào về cô ấy. Rồi chúng tôi cùng đi xem film, đi ăn, cùng trò chuyện vui vẻ.

Ở một thời gian, Charles không thấy tôi cặp kè với ai, ông đưa tôi cái account ở một trang Online Dating phải trả phí, bảo tôi đổi profile thành của tôi rồi xài. Tôi đổi cho ông vui, rồi để nó đóng bụi ở đó, mặc ông ngày nào cũng cằn nhằn: tao chỉ muốn tốt cho mày thôi… Tôi và ông ngày nào cũng đi ăn phở ở quán Việt Nam, ổng hay lân la ra chỗ ông bà chủ quán và bảo họ tìm thử xem có ai xinh giới thiệu cho tôi không, tôi tốt bụng lắm.

Khi con trai của Charles lần đầu tiên dọn tới ở chung với ông sau mười sáu năm, tôi lặng người nhìn niềm hạnh phúc hiển thị rõ rệt trên khuôn mặt ông, khi ông và tôi lái xe tới phi trường đón nó. Và cũng sau đó, tôi chứng kiến những cái nhíu mày đầy phiền muộn, những lần đôi mắt ông đỏ hoe hoe, mỗi khi ông và con trai có chuyện. Những ngày sau đó, hành động tôi và ông làm nhiều nhất là những đêm tối trời, tôi và ông đứng ở ngoài hiên sau, ngắm trời sao, ông rít thuốc liên tục, và chúng tôi cùng nói chuyện về cuộc sống, về con trai của ông.

Lúc đó, tôi mới thấy được một con người khác ngoài một người lúc nào cũng đùa giỡn liên hồi – một người cha đầy tâm sự về đứa con hư của mình. Những niềm vui khi nó học giỏi, những nỗi buồn khi he fucked everything up, tôi và Charles đều cùng trải nghiệm, cùng cảm nhận, cùng trải qua. Chúng tôi cũng hay lái xe ra ngoài lúc nửa đêm, chỉ lái loanh quanh vô định, Charles đốt thuốc, tôi cảm thán, và đôi lần bị cảnh sát hỏi thăm vì tưởng là trộm đảo quanh quẩn.

Những lần con trai Charles trong đội bóng bầu dục của trường thi đấu, tôi đều tới, ngồi cạnh ông, cùng hòa chung nhịp điệu của trận đấu. Ba người chúng tôi làm nhiều việc cùng nhau như thế ấy, như một gia đình nhỏ…

Charles hay phàn nàn về việc tôi chuyên môn quăng đồ tứ lung tung ở sofa, bàn ăn, và phòng khách; hay khi tôi lúc nào cũng ôm lấy cái laptop, kể cả khi ăn. Nhưng chúng tôi rất hợp, như có lần ông nói: you are the best roommate one can have…

***

Tôi đang ở Houston cùng gia đình đón Tết Tây khi tôi nhận được điện thoại của ông giám đốc là Charles is not going to work with us. Có rất nhiều lí do, nhiều nguyên nhân, đó là kết quả của một chuỗi các sự việc không ai lường được. Charles sẽ quay lại Arizona. Đó là lựa chọn duy nhất.

Hôm qua, khi tôi lái lên Dallas, tôi ngồi nói chuyện với ông, mắt ông đỏ hoe, tay chấm nước mắt vài lần. Ông bảo tôi: I know we will miss each other. Charles nói điều ông nhớ nhất sẽ là tôi và ông có cảm giác như một gia đình, khi hai người cùng đi làm về, và cùng nói chuyện về con cái, về cuộc sống. Tối qua là một trong những lần hiếm hoi tôi có cảm giác còn buồn hơn cả khóc…

Cái ngày ông đi, sẽ rất gần, sẽ chẳng bao giờ biết có dịp gặp lại. Rất buồn, nhưng vẫn phải nói lời tạm biệt tới người bạn đầu tiên của tôi trên đất Mỹ, lại là một người mà tôi có thể gọi bằng hai tiếng “tâm giao”.

Wish you all the best.

Hải
null

2011 resolution

Filed Under (Another Me) by B.l.u.e on 01-01-2011

Tagged Under : ,

khi người ta trẻ, trước mỗi thềm năm mới, người ta tự viết ra cho mình một lô một lốc các điều cần làm và quyết tâm làm trong năm mới, dù họ biết, cái sự khắc nghiệt và đồng bóng của cõi đời, sẽ không bao giờ cho phép họ – những con người yếu đuối, nhỏ nhoi, được đi theo cái lộ trình mà họ đã vạch ra ấy

ấy thế, năm này qua năm khác, khi thời gian đang bò lê bò lết những khoảng khắc cuối cùng của một năm – dần – đã – cũ, người ta lại hay ngồi, tập trung, và viết cái – gần – như – vô – nghĩa đó

2011 resolution với anh, chỉ đơn giản như một câu của Guillaumet trong Cõi người ta:

Anh chống lại mọi cám dỗ. Anh bảo: nằm ở trong lòng tuyết, con người ta mất tuốt hết linh tính tự vệ. Đi suốt hai, ba, bốn ngày đường, con người chỉ còn có cầu mong giấc ngủ. Tôi cũng ước mong được ngủ. Nhưng tự nghĩ: vợ tôi, nếu tin là tôi còn sống, ắt tin là tôi đương đi. Bạn hữu tôi, cũng tin rằng tôi đương đi. Mọi người cùng tin cậy nơi tôi. Tôi là một thằng tồi nếu tôi dừng bước lại.

mong ước cho năm 2011 của anh cũng như thế, dù bất cứ điều gì xảy ra, cũng chỉ mong đủ niềm tin, đủ kiên nghị để mãi đi trên con đường mà mình đã chọn – bất kể con đường đó có khó khăn, hiểm trở như thế nào

vì còn sống là còn phải đi

và các bạn của anh, anh cũng mong cho các bạn luôn gặp những may mắn, mong cho con đường mà các bạn đi năm mới này sẽ luôn bằng phẳng, luôn thuận lợi. Nhưng, nếu vì bất cứ lí do gì, chẳng hạn tạo hóa trêu ngươi, khiến con đường đó gập ghềnh đi một chút xíu, mong cách bạn hãy luôn nhớ rằng: anh – bạn hữu của các bạn, tin cậy nơi các bạn, tin rằng dù thế nào thì các bạn vẫn đương đi…

Happy New Year!

01012011
B.l.u.e